Xi Măng Compomer: Cấu Tạo, Tính Chất & Ưu Nhược Điểm (2026)
Xi Măng Compomer
Ngay sau khi GIC gia cố nhựa được giới thiệu, các ‘compomers’ đã được giới thiệu ra thị trường. Chúng được bán như một loại vật liệu nha khoa mới sẽ cung cấp những lợi ích kết hợp của vật liệu tổng hợp (chữ ‘comp’ trong tên của chúng) và glass ionomer (‘omer’).
Những vật liệu này có tính năng giải phóng fluoride của GIC với độ bền của composite. Dựa trên cấu trúc và tính chất của chúng, những vật liệu này thuộc nhóm vật liệu compomer. Thường chúng được gọi một cách nhầm lẫn là “glass ionomers lai”, “GIC quang trùng hợp” hoặc ” resin-modified glass ionomers’”.
Danh pháp chuẩn xác được đề xuất cho các vật liệu này là COMPOSITE RESIN BỔ SUNG POLYACID (POLYACID-MODIFIED COMPOSITE RESINS).
Ứng dụng
- Vật liệu phục hồi trong nha khoa trẻ em.
- Vật liệu phục hồi ở các vùng không chịu lực.
- Tổn thương xoang V (cổ răng).
- Chất trám nền.
- Dán / gắn phục hình (ví dụ: Permacem).

Các dạng trên thị trường
Những vật liệu này rất nhạy cảm với độ ẩm. Chúng thường được cung cấp dưới dạng:
- Quang trùng hợp 1 ống: Đóng gói trong các túi chống ẩm (ví dụ: Dyract, Compoglass).
- Bột / chất lỏng: (ví dụ: Principle).
- Hệ thống trộn hai ống: (ví dụ: PermaCem).
Tên thương mại phổ biến:
- Dùng cho phục hồi: Dyract (Dentsply), Compoglass (Ivoclar).
- Dùng để dán/gắn: Permacem, Principle (Dentsply), v.v.
(Dyract của Dentsply dùng trong phục hồi)
Thành phần cấu tạo
Những vật liệu này có hai thành phần chính:
- (Các) Monome dimethacrylate: Có chứa hai nhóm cacboxylic.
- Chất độn: Tương tự như hạt thủy tinh (ion glass) có thể rửa trôi có trong GIC.
Tỷ lệ nhóm cacboxylic trên nguyên tử cacbon khung là khoảng 1:8. Đặc biệt, không có nước trong thành phần của những vật liệu này và hạt thủy tinh được silan hóa một phần để đảm bảo tạo liên kết với chất nền nhựa.
- Hệ thống 1 ống: Thủy tinh silicat, natri florua, monome biến tính polyacid, chất khơi mào quang học (photoinitiator).
- Hệ thống 2 ống:
- Bột: Chất độn thủy tinh, chất gia tốc, chất khơi mào, TiO2.
- Chất lỏng: Monome acrylic, photoinitiator, nước, axit cacboxylic dimethacrylat.
Phản ứng đông kết
Quá trình đông diễn ra theo hai giai đoạn:
- Đông kết ban đầu: Thông qua trùng hợp gốc tự do được kích hoạt bởi ánh sáng (giống composite).
- Đông kết thứ phát (Phản ứng axit-bazơ): Sau khi trám, nước từ nước bọt trong khoang miệng được xi măng hấp thụ. Lúc này, phản ứng axit-bazơ mới xảy ra giữa các nhóm cacboxylic và các hạt độn không bị silan hóa. Đây chính là phản ứng giúp vật liệu giải phóng fluoride.
Dán và trùng hợp
Cơ chế liên kết và trùng hợp tương tự như xi măng nhựa (Resin cement), bao gồm:
- Quang trùng hợp (Ánh sáng).
- Hóa trùng hợp.
- Lưỡng trùng hợp (Kép).
Quá trình xoi mòn (etching) và dán (bonding) tương tự như khi làm việc với xi măng nhựa. Một số vật liệu thế hệ mới hiện tại có khả năng tự xoi mòn và tự dán (ví dụ: Permacem của DMG).
Thao tác lâm sàng
- Hệ thống 1 ống: Bề mặt răng được xoi mòn và bôi keo dán. Compomer được tiêm trực tiếp vào xoang và chiếu đèn quang trùng hợp.
- Hệ thống bột / chất lỏng: Bột và chất lỏng được lấy ra tỷ lệ chuẩn và trộn theo hướng dẫn của nhà sản xuất (thường trong 30 giây).
- Hệ thống trộn tĩnh (Automix): Vật liệu được tự động trộn đều khi bị đẩy qua các đường xoắn ốc bên trong đầu trộn.
Tính chất
Xem xét về việc chất độn có tỷ lệ thể tích thấp và quá trình silan hóa hạt độn không hoàn toàn, có thể thấy Compomer có cơ tính kém hơn so với vật liệu composite. Cả hai nghiên cứu in vitro và in vivo đều xác nhận điều này.
Cường độ uốn, mô đun đàn hồi, cường độ nén, độ dẻo, độ cứng đều thấp hơn, trong khi tỷ lệ mài mòn lại cao hơn đáng kể so với vật liệu composite lai (hybrid composite). Hiệu suất lâm sàng của chúng nhận được nhiều đánh giá trái chiều.
- Giải phóng florua: Mặc dù có giải phóng fluoride nhưng mức độ này thấp hơn đáng kể so với GIC. Dù thấp, nhưng fluoride được báo cáo là có thể phóng thích kéo dài ít nhất 300 ngày.
- Kết dính: Không giống như Glass Ionomer (GIC) tự dính vào răng, Compomer không có khả năng tự liên kết với mô cứng. Giống như composite, bắt buộc phải xoi mòn axit và dùng keo dán (Bonding).
- Tương thích sinh học: Khá an toàn. Ngoại trừ một số lo ngại nhỏ về việc giải phóng HEMA, không có vấn đề tương thích sinh học nghiêm trọng nào.
Đánh giá: Ưu và Nhược điểm
- Ưu điểm chính: Tính thẩm mỹ tốt, dễ thao tác và có khả năng giải phóng fluoride (giúp phòng ngừa sâu răng tái phát).
- Nhược điểm: - Thiếu khả năng tự kết dính vào mô răng (Bắt buộc dùng keo dán, làm tăng số bước và thời gian thao tác).
- Độ cứng và khả năng chịu lực mài mòn kém hơn Composite.
Kết luận: Việc cải thiện liên tục giúp Compomer ngày càng tốt hơn, nhưng do chúng không tự đông cứng ngay bằng phản ứng axit-bazơ (mà cần hút nước bọt) và không tự dán vào răng, chúng không thể và không nên được phân loại là GIC.
Nguồn: Manappallil, J. J. (2016). Basic dental materials. Jaypee.
Nha Khoa Asia
Hệ thống nha khoa uy tín hàng đầu, mang lại nụ cười rạng rỡ cho hàng triệu khách hàng.